Quá Trình Hình Thành Bản Sắc Ở Giới Trẻ: Tác Dụng Trái Chiều Của Các Mối Quan Hệ, Cộng Đồng Và Giới Tính

Screenshot 2021-04-21 at 16.35.16.png

Trong quá trình chuyển giao từ giai đoạn vị thành niên sang thanh niên, việc hình thành một tổ hợp nhận thức về bản sắc cá nhân hoà hợp với nhận thức về bản thân của  một người là rất quan trọng cho sức khỏe tâm lý của họ [1,2,3]. Nhà tâm lý Erik Erikson là người đầu tiên đặt nền móng cho lý thuyết bản sắc khi ông cho rằng trẻ vị thành niên sẽ vật lộn với giai đoạn bản sắc và sự bối rối trong vai trò [4]. Theo quan điểm của ông, một bản sắc vững chắc được hình thành bởi quá trình trên và xây dựng bởi các cam kết khác biệt về nghề nghiệp, giới tính, tính cách, và hệ tư tưởng [4]. Thế nhưng, cộng đồng, giới tính và các mối quan hệ là những yếu tố có thể bảo vệ cũng như  gây mất ổn định sức khỏe tâm lý của người trẻ khi họ đang trong quá trình hình thành bản sắc.

Nghiên cứu tâm lý sau này đã phát triển từ nhận định của Erikson rằng mỗi cá thể đều phải trải qua một cuộc khủng hoảng về bản sắc đến mức độ tận tâm trong cam kết của họ với bản sắc họ có. Quá trình họ định hướng và cam kết với những lựa chọn của mình có thể được phân biệt thành bốn trạng thái bản tính khác nhau: Khuếch tán (Diffusion), Mặc định (Foreclosure), Tìm kiếm (Moratorium), và Hoàn thiện (Identity achievement) [5]. Đặc trưng của Khuếch tán là khi một người không thể hiện rõ sự cam kết của mình theo một hướng nhất định nào và vẫn đang trong quá trình khám phá thêm. Trạng thái Tìm kiếm ám chỉ việc  cá nhân đang tìm hiểu những lựa chọn khả thi cho mình. Trạng thái Mặc định là khi cá nhân có những nhận định về bản thân dựa trên những đề xuất của người khác mà không tìm hiểu thêm về các lựa chọn khác. Cuối cùng, trạng thái Hoàn thiện là khi một người thể hiện sự nhất định và kiên quyết trong việc cam kết với những quyết định của bản thân mình. Thông thường, một cá nhân sẽ trải qua một hành trình lũy tiến từ giai đoạn Khuếch tán sang trạng thái Hoàn thiện. Đặc biệt, các bạn trẻ thường sẽ phát triển từ giai đoạn Mặc định đến giai đoạn Hoàn thiện. 

Trạng thái Hoàn thiện có liên hệ mật thiết với sức khỏe tâm lý tốt thông qua quá trình tìm hiểu độc lập về các cam kết của một người thông qua giao tiếp với những người khác [8]. Một nghiên cứu điều tra về sức khỏe tâm lý của 217 sinh viên đại học tìm ra một mối tương quan đáng kể giữa sức khỏe tâm lý của cá nhân và việc họ đạt đến trạng thái hoàn thiện trong quá trình hình thành bản sắc của mình [6]. Cụ thể, các sinh viên ở trạng thái hoàn thiện đạt điểm cao hơn về sự hài lòng, nhận thức về tiềm năng của bản thân, và tính lạc quan. Những tính chất này có thể thể hiện sự chắc chắn trong việc các sinh viên định hình rõ được lựa chọn danh tính của mình và chuẩn bị tinh thần để sống với danh tính họ có. Ngược lại, việc tìm hiểu các bản sắc khác một mình thì chưa đủ để hình thành sự kiên cường về mặt tâm lý ở các cá nhân khi mà họ thiếu phương hướng. Một nghiên cứu phân tích tổng hợp (meta-analysis) thu thập dữ liệu từ các nghiên cứu dọc (longitudinal research) về việc hình thành bản sắc cho thấy việc tìm hiểu kỹ càng danh tính của các cá nhân đạt đến trạng thái Hoàn thiện xảy ra qua việc chủ động trao đổi và lắng nghe kỹ càng quan điểm của người khác [7]. Điều này có ảnh hưởng tích cực đến sự bền vững tâm lý của họ bởi vì khi trạng thái bản tính Hoàn thiện nâng cao ở thanh niên, họ thường có xu hướng tìm hiểu thêm kỹ hơn về những cam kết đã chọn.

Trạng thái Tìm kiếm thường phổ biến ở trẻ vị thành niên vì trạng thái này giúp cá nhân ở độ tuổi này loại bỏ những thông tin không phù hợp với họ trong môi trường để họ có thể xác định được loại cam kết nào phù hợp với họ. Một nghiên cứu tìm hiểu giữa học sinh Mỹ gốc Latin và học sinh da trắng xem liệu hai nhóm này dựa vào đặc tính hay những  phán đoán cá nhân để hình thành nên bản sắc của họ [1]. Nghiên cứu này cho rằng những cá nhân trong trạng thái Tìm kiếm không chỉ thể hiện những biểu hiện như là khám phá  và tìm hiểu thông tin để đưa ra những quyết định phù hợp với bản sắc của mình mà còn thể hiện khả năng tự đề ra những lựa chọn khác để nhận định sự tương hợp của chúng với bản thân. Các kết quả từ nghiên cứu này cho thấy rằng học sinh tự khám phá bản tính của mình bằng việc chủ động học hỏi chứ phải không qua việc thử nghiệm các lựa chọn đời sống khác. Nghiên cứu cũng đồng thời cho rằng môi trường cũng ảnh hưởng đến trạng thái bản sắc khi học sinh Mỹ gốc Latin có sự gắn kết thân thiết với gia đình truyền thống sẽ thể hiện trạng thái Mặc định, thay vì Tìm Kiếm [1].

2.jpg

Việc cá nhân ở độ tuổi vị thành niên thường không ở trong trạng thái Tìm hiểu lâu phụ thuộc vào cách họ đã hình thành những cam kết từ sớm do ảnh hưởng của môi trường cộng đồng quanh họ. Ví dụ, một nghiên cứu trên trẻ vị thành niên người Thổ Nhĩ Kỳ-Bun-ga-ri cho thấy rằng điểm số bản sắc Hoàn thiện cao biểu hiện một sự kiên cường tâm lý vững chãi khi đối mặt với khó khăn [2]. Nghiên cứu này còn đề xuất rằng nhờ vào mối quan hệ cơ bản giữa các giá trị của gia đình và trạng thái bản tính, sự hình thành bản tính ở những người trẻ này bị ràng buộc trong các mối quan hệ gia đình. Điều này làm giới hạn các cam kết khác và đẩy nhanh tiến độ của họ đến với sự Hoàn thiện. Thú vị hơn, một nghiên cứu khác điều tra về mối quan hệ giữa việc tham gia hoạt động xã hội và bản sắc  Hoàn thiện ở giới trẻ Ý đã tìm ra rằng các người trẻ hoàn thiện thường ít hứng thú với việc đóng góp cho xã hội [3]. Nghiên cứu này cho thấy rằng việc nghiền ngẫm kỹ lưỡng, thay vì cam kết với một bản tính đã chọn có một tác động đáng kể lên mong muốn cam kết vào các hoạt động cộng đồng ở vị thành niên. Một điểm trừ của hai nghiên cứu trên là dựa vào những người tham gia có cùng chung hoàn cảnh và có được sự hỗ trợ từ cộng đồng xung quanh họ, gây ra thiếu sót đối với quá trình hình thành bản sắc của những người trẻ thiếu sự tiếp cận đó.

Tuy nhiên, trạng thái Hoàn thiện của bản sắc không phải cố định xuyên suốt quá trình  trưởng thành và thường khác biệt đáng kể giữa nam và nữ. Một nghiên cứu ghi nhận quá trình hình thành bản sắc của 172 người Phần Lan trong độ tuổi 27 đến 50 và phát hiện ra rằng phụ nữ thường duy trì trạng thái Hoàn thiện tốt hơn nam giới [8]. Cụ thể hơn,đàn ông chiếm đa phần hơn phụ nữ ở trạng thái Mặc định và Khuếch tán trong các mối quan hệ ở độ tuổi 27, 36, và 50, chỉ thấy sự khác biệt về giới tính xuất hiện trong trạng thái bản sắc. Đặc biệt, ở độ tuổi 50, đàn ông thường có xu hướng nhìn nhận tương lai như một thứ họ không hoàn toàn có kiểm soát mà thường bị ảnh hưởng bởi sự kiện của thế giới. Cảm giác mất tự chủ, bị động này giới hạn họ khám phá thêm về bản sắc mà họ đã chọn, dẫn đến việc bản sắc  của họ sẽ thiên về trạng thái Khuếch tán [9]. Tuy rằng thiên hướng phát triển hướng về trạng thái Hoàn thiện thường thấy ở người bước đến độ tuổi trưởng thành, phụ nữ thường có sự phát triển bản tính chững chạc hơn trong các mối quan hệ ở thế hệ trẻ hơn.

Kết luận 

Hiện nay các bằng chứng cho thấy rằng khi quá trình hình thành bản sắc đạt tới trạng thái Hoàn thiện cùng với việc tìm hiểu sâu về những cam kết đã lựa chọn thì các người trẻ sẽ có một sức khỏe tâm lý tốt hơn. Tuy rằng bản sắc  Tìm kiếm giúp trẻ vị thành niên thiết lập một không gian thử nghiệm với nhiều loại lựa chọn khác nhau từ công việc, giới tính, tính cách và tư tưởng, điều này có thể góp phần làm giảm tính bền vững về tâm lý nếu như việc làm này không có một phương hướng nhất định nào. Các mối quan hệ giữa người cùng sắc tộc là yếu tố thiết yếu giúp người trẻ hiểu rõ hơn các cam kết của họ trong quá trình xây dựng bản tính. Cộng đồng xung quanh giúp định hướng các cá nhân đang ở trong giai đoạn Tìm kiếm để họ không cảm thấy lạc phương hướng, thiếu mục tiêu. Tuy vậy sự xác định phương hướng rõ ràng vẫn gặp bất chắc khi cảm giác hoàn thiện không hoàn toàn  vĩnh viễn vì họ sẽ tiếp tục quá trình phát triển ở tuổi trưởng thành. Nhiều yếu tố như giới tính, góp phần khiến họ bị thụt lùi hoặc tiến nhanh giữa các trạng thái bản sắc  khác nhau. Có lẽ, để gìn giữ sức khỏe tâm lý của mình, một người cần tự chủ trong việc tự phản ánh, thử nghiệm, và cảm thấy hài lòng với những cam kết mà họ đã chọn và nhận sự trợ giúp từ những người xung quanh họ [8].


Biên tập: Thi Bùi & Hương Lê

Minh hoạ: Giang Nguyễn

Tài liệu tham khảo: 

[1] Berman, A. M., Schwartz, S. J., Kurtines, W. M., & Berman, S. L. (2001). The process of exploration in identity formation: The role of style and competence. Journal of Adolescence, 24(4), 513–528. https://doi-org /10.1006/jado.2001.0386

[2] Cakir, S. Gulfem. "Ego identity status and psychological well-being among Turkish emerging adults." Identity 14, no. 3 (2014): 230-239.

[3] Crocetti, Elisabetta, Parissa Jahromi, and Wim Meeus. "Identity and civic engagement in adolescence." Journal of adolescence 35, no. 3 (2012): 521-532.

[4] Siegler, Robert S., Judy S. DeLoache, and Nancy Eisenberg. How children develop. Macmillan, 2003.

[5] Marcia, James E. "The ego identity status approach to ego identity." In Ego identity, pp. 3-21. Springer, New York, NY, 1993.

[6] Waterman, A. S. (2007). Doing well: The relationship of identity status to three conceptions of well-being. Identity, 7(4), 289–307. https://doi-org/10.1080/15283480701600769

[7] Meeus, W. (2011). The study of adolescent identity formation 2000–2010: A review of longitudinal research. Journal of Research on Adolescence, 21(1), 75–94. https://doi.org/10.1037/0022-0167.54.3.224

[8] Fadjukoff, P., Pulkkinen, L., & Kokko, K. (2016). Identity formation in adulthood: A longitudinal study from age 27 to 50. Identity, 16(1), 8–23. https://doi.org/10.1080/15283488.2015.1121820

[9] Fadjukoff, Päivi, Katja Kokko, and Lea Pulkkinen. "Implications of timing of entering adulthood for identity achievement." Journal of Adolescent Research 22, no. 5 (2007): 504-530.

Nam Nguyễn

Học sinh năm nhất chuyên nghành tâm lý và xã hội học tại trường đại học Melbourne, Úc.

Previous
Previous

Một Góc Nhìn Đương Đại Về Học Thuyết Gắn Bó Ở Thanh Thiếu Niên

Next
Next

Giới Thiệu Về Tâm Thần Phân Liệt